THƠ NÓI, THƠ CỤ THỂ, THƠ THẤY HOÀNG LIÊN SƠN
(Giới thiệu tập thơ Công bằng đến khốn cùng của Hoàng Liên Sơn,
Nhà xuất bản Tri thức, tháng 06 năm 2026)
Thơ trên dải đất hình chữ S này, sau phong trào thơ Mới 1932 - 1945, thơ “dòng chữ” ở miền Bắc, thơ nhóm Sáng tạo ở miền Nam đều thuộc cuối thập niên 50 của thế kỷ trước cho đến giờ vẫn chưa sẵn sàng cho một cuộc lên đường mới, mặc dù nhiều người đã chán viết theo những hình thức quen thuộc. Nhiều người cũng không còn mặn mà với những tìm tòi và cách tân tương đối gây shock như trước nữa. Tôi cảm thấy có một sự mệt mỏi, một điều gì đó bế tắc đối với loại thơ đang được viết ngày nay.
Nhu cầu về cái mới là hiển nhiên. Sự chế giễu thơ đương đại trong các cuộc trà dư, tửu hậu thậm chí cả ở một số cuộc đối thoại công cộng hiện thời là bằng chứng cho thấy một nghịch lý rằng cộng đồng hiện đang thiếu thơ nhưng lại không màng đến thơ trong đầu.
Một nền thơ mới đang trở nên cần thiết không phải vì chúng ta muốn có, mà vì phương cách hành ngôn thơ quen thuộc bấy lâu nay khiến công chúng không còn mặn mà với thơ như trước.
Rõ ràng thực tại đã lớn nhanh hơn các loại hình nghệ thuật và các loại hình nghệ thuật không còn tương xứng với thực tại chung quanh nó nữa.
Thực trạng đó đòi hỏi sự xuất hiện của những người làm thơ mang ý thức thoát ra khỏi những vùng/vũng thơ quen thuộc.
1.
Hoàng Liên Sơn không thuộc nhóm người thơ khát khao đi tìm những ý hay, tứ lạ, những rung cảm mãnh liệt, những cảm xúc cháy bỏng hay cố gắng săn tìm những thi ảnh tân kì để diễn đạt bao trạng thái tâm hồn đặc biệt. Anh chỉ là người sống nhiệt thành đầy giao cảm với thực tại sống nhiều thay đổi của thời mình với muôn vàn các mối quan hệ thân thuộc lẫn không quen biết cùng bao va chạm, tiếp xúc, gắn bó, hệ lụy với cả gần gũi và xa cách trên một nền tảng sống mới – nền tảng toàn cầu và số hóa.
Đọc thơ anh trước hết thấy một người thơ giữ thăng bằng đi xuyên qua kỷ nguyên số.
Thuật ngữ “kỷ nguyên số” (digital age) đã trở nên hết sức quen thuộc với con người Việt Nam đương đại bởi những dấu ấn đặc biệt của sự thay đổi với tốc độ nhanh, tính chất ảo, tính kết nối cùng sự tác động mạnh mẽ lên các lĩnh vực chính trị, an ninh, kinh tế, văn hóa, xã hội...
Tất nhiên, đối với các nước đang phát triển, kỷ nguyên số, ngoài những tác động tích cực đồng thời cũng tạo nên những rung lắc dữ dội làm rạn vỡ các mối quan hệ từ gia đình đến xã hội.
Người tham dự và người thơ Hoàng Liên Sơn đã bị bắt buộc phải trở thành một thư ký ghi chép bằng thơ những biên bản tháng ngày, ghi lại bao sự kiện của bản thân, của gia đình, dòng tộc và đậm nhất vẫn là mảng thơ viết theo kiểu những tạp thi, tản thi triền miên những xúc cảm giản dị, những kỷ niệm thoáng qua của cuộc tình đã và đang diễn ra trên đời mình.
Thơ Hoàng Liên Sơn thỉnh thoảng cũng gây những cú shock nho nhỏ và gợi suy ngẫm bởi những câu chuyện nửa ký sự, nửa tự sự, nửa thơ như chuyện người ông chuẩn bị hậu sự cho mình kín kẽ tới mức không còn một kẽ hở cho cháu con được dự phần báo hiếu. Đó là chuyện một giai nhân cố tình không mang khẩu trang để phô vẻ đẹp khuôn mặt mình nhưng lại vô ý ngáp to không che miệng, đó là chuyện nhân vật trữ tình sau khi chứng kiến những vô thường của cuộc đời đi vào giấc ngủ ngắn sau ngày mà luôn nghĩ tới giấc ngủ mai hậu, giấc ngủ thiên thu, đó là chuyện nhân vật trữ tình đùa cợt với bao chiếc bẫy lừa đảo giăng đầy trên không gian mạng…
Tuy nhiên, mạch chủ yếu trong thơ anh vẫn là cố gắng duy trì một cái nhìn và những suy niệm công bằng giữa các phạm trù tương phản, đối lập như may mắn và rủi ro, được và mất, đẹp và chưa đẹp, dè xẻn và hào phóng…cho đến những gì lớn lao, phổ quát hơn như Thiện và Ác, truyền thống và hiện đại như chính một bài thơ mang giá trị kép vừa tự họa chân dung cá nhân vừa tự họa thơ mình:
Anh cầm tinh con chuột
Nhưng sinh giữa Rằm nên thích được mèo vờn
Đích đang gần dần hay xa dần
Đều thích
(Hẹn)
Cảm hứng đó đi suốt ba chặng thơ lớn và mấy trăm trang của tập thơ khiến ta thấy một người đi giữa bao thay đổi gấp gáp của thời cuộc, bên những đảo lộn khác nhau của các hệ giá trị, trước những ấm lạnh bất khả đoán của tình người, tình đời nhưng lại khá thanh thản, an nhiên…
Đi ngược hướng gió bấc
Đeo khẩu trang lên nếu gặp mùi cóc chết
Độc tính chẳng là gì so với thuốc trừ sâu hay hóa chất
Ban mai sẽ trong lành khi vừa bước qua đê
…
Đất phơi ải mùa đông mùi không hấp dẫn
Nhưng gợi nhớ ngọt sắc mùi rạ cắt
Và gợi ý sang xuân sẽ mùi lúa đương thì...
(Phía trước)
.Hay:
Nhà tôi hơn hàng xóm ba bò
Hơn bao nhiêu gà chưa kể
Hơn chục bao lúa đã sàng sảy sạch khô
Phút chốc không còn hơn nữa
Sau cơn đại hồng thủy hôm nay.
(Hơn đẹp)
Cũng có khi người thơ dẫn ta đến những ngữ cảnh hiện sinh gợi nhiều khắc khoải của cuộc người:
Những con cá biết nơi sâu là an yên
Nhưng lại thèm phù du côn trùng chỉ nước nông mới sẵn
Nên thập thò ở ngưỡng nông sâu
Vừa kiếm mồi vừa để ý trước sau.
Phải chăng triệu năm trước
Cá với người anh em họ của nhau?
(Liên tưởng)
Nhiều hơn cả vẫn là mảng thơ Sơn viết về tình yêu. Thơ tình của Hoàng Liên Sơn không chủ trương kinh điển hóa. Thoạt đầu tôi đọc không thấy thú vị vì mảng thơ này Sơn không đưa đến những gì mà tôi đang chờ đợi. Tuy nhiên sau đó ngẫm lại thấy rằng tình yêu vốn là những gì rất đỗi cá nhân, là những gì bao tình nhân trên đời không nhất thiết phải sống qua. Vậy tại sao mình lại đòi hỏi thơ tình của Sơn mang đến cho mình những thi cảm quen thuộc.
Thơ tình hay, xét cho cùng là ở sự thành thật và dại khờ qua cách nói vụng về với ngữ ngôn không văn hoa, trang điểm.
Ví như đoạn thơ sau:
Anh hùi hụi tiếc
Bởi đã có lúc gần đến mức
Đứa vào đến đầu làng đứa ra khỏi cuối thôn.
Nhưng là tiếc cái cầm tay hụt
Không phải tiếc công đi đứng trông chờ
(Tiếc)
Là sự thổ lộ nỗi nhớ khát dị thường mà mãnh liệt trong hành vi chỉ có những người yêu sâu mới thực thấu hiểu:
Đêm nọ nằm nhớ em
Tình cờ thấy có sợi tóc dài dưới chân đèn ngủ
Tìm quanh nữa
Lại ra thêm dăm sợi nâu trầm.
Anh bèn bật đèn phòng sáng trưng
Mót dưới chăn và quanh gối
Rồi bện lại
Thành một sợi nằm đầy ngăn nhỏ ví xinh.
Từ bữa ấy từng đêm ví lại
Dưới chân đèn thắp nhớ mái đầu em...
Anh hết một mình mỗi lúc về đêm!
(Tóc)
Thật cho tới cả những cảnh huống đời và cảnh huống tình trớ trêu, ngang trái:
Thương em vun thu đến hao gầy
Nửa mong lửa đượm nồng nửa lo gây đám cháy
(Nguyện ôm tròn)
Cái đẹp của thơ tình còn là ở những hạnh phúc và khắc khoải không tên:
Có chút gì như ẵm như bế
Nhưng lại không phải thế.
Anh tột cùng hạnh phúc mà quá đỗi bất an
Sau vài phút đã đòi đứng dậy.
Từ bấy
Mỗi lần cuộc đời sóng gió đầy lên
Anh lại nhớ động tác không tên.
Nỗi nhớ đủ hóa giải cay đắng muộn phiền
Nhiều phi lý bất công từ cõi thế
Và đôi lúc là
Thậm chí
Từ em.
(Động tác không tên)
2.
Hoàng Liên Sơn không thuộc nhóm người mang sẵn trong mình những khát khao cách tân thể loại và sẵn sàng đi tiền trạm cho những dự án đổi mới thơ. Anh chỉ là người sống nhiệt thành với thực tại thơ của thời mình và không muốn thơ mình cớm nắng dưới những cái bóng của các tiền bối nên vô tình chạm tới các trào lưu thơ đương đại thế giới như thơ nói, thơ cụ thể, thơ thấy.
Đọc thơ anh thấy một người thơ giữ thăng bằng đi qua những trào lưu thơ.
Đọc thơ Hoàng Liên Sơn có thể thấy một số cung cách hành ngôn của anh hoặc chủ ý hoặc vô tình đã chạm tới trường phái "thơ nói" (speech-based poetry) trong văn học Hoa Kỳ mà nổi bật nhất ở tính duy ảnh (imagism) hay trường phái Black Mountain qua cách sử dụng ngôn ngữ thông dụng, nhịp điệu tự nhiên của hơi thở và hình ảnh qua thái độ ngầm chống lại hình thức nặng tính hàn lâm khuôn mẫu của thơ.
Chẳng hạn với:
Anh cả đời không chê cha mẹ khó
Nhưng cũng không bỡ ngỡ
Khi đứa nhỏ nhắn rằng
Lấy là tiếc vì đã là con của mẹ cha
Và em của chị.
Trung niên trả lời cho bố xin lỗi nhé
(Tứ đại đồng đường)
Khó thuyết phục với nhiều người rằng đó là những câu thơ và cũng khó mà bàn bạc nghiêm túc vấn đề thi tính ở đây.
Nhưng chẳng phải là Thanh Tâm Tuyền cũng đã từng viết:
Câu thơ hay tự nhiên như lời nói
Bài thơ hay là cái chết cuối cùng
(Thanh Tâm Tuyền – Định nghĩa một bài thơ hay)
đó sao?
Ở đây người đọc thơ dù bình thản nhất cũng sẽ có được cơ hội tìm lại xúc cảm trên những lời nói và hành vi.
Cũng không khó để nhận ra ở nhiều phần trong tập thơ khoảng cách giữa người viết và người đọc được thu hẹp một cách đáng kể bởi Sơn thường dẫn ta đến những sự kiện đời thường và cố tình diễn đạt bằng thứ cú pháp và ngôn ngữ của đời thường.
Đây chưa phải là một chiến lược mang tính thi pháp nhưng có thể là một lối thoát nhằm tránh phải chịu ảnh hưởng tiền bối lẫn bị ám ảnh bởi những quy phạm. Thực ra thì chính Robert Frost cũng đã nói về thơ trữ tình khi ông đưa ra lời tuyên bố nổi tiếng, rằng một bài thơ là “một sự minh giải đời sống nhưng không nhất thiết là một sự minh giải lớn”. Thơ hiện nay cũng không nhất thiết phải đi ra từ những chấn thương hay những hoạn nạn ghê gớm của tâm hồn. Thơ đương đại của thế hệ làm thơ hậu chiến ở Việt Nam có thể đang phải gánh chịu không chỉ những áp lực của sự không lặp lại hay tiếp nối mà còn là ở sự đặt định một tiếng nói riêng của thế hệ.
Chúng ta cũng đã thấy rõ ở một số người làm thơ đương đại, có thể chưa chắc họ đã là những tên tuổi lớn của nền thi ca, nhưng họ thuộc về những gì đang là và họ đang hình thành đồng thời hoàn tất tiếng nói của thế hệ họ. Thơ của họ có thể đang còn là những tiếng nói ít gây hiệu ứng mạnh mẽ, nhưng họ không chịu lặp lại và hãy tự hỏi: nếu một thế hệ không có tiếng nói, hay việc làm thơ của họ đơn thuần chỉ để họa theo một thế hệ nào đó thì liệu những khoảng trống trong hành trình thơ của cộng đồng có được san bằng, bù đắp?
Đọc thơ Hoàng Liên Sơn ta cũng thấy anh đã vô tình chạm vào một tiểu thể loại đang thịnh hành trong thơ thế giới đương đại: thơ cụ thể, thơ thấy.
Thơ cụ thể, thơ thấy như nhiều phương tiện thông tin trên không gian mạng đã giới thiệu là một trường phái đặt tham vọng về một thứ thơ hiện tại hóa tối đa trong đó, sự tương giao giữa văn bản với hiện thực là cứu cánh của người viết. Thơ gần như đang tìm cho mình một cách tồn tại mang tính tự trị bằng cách gắn với từng khoảnh khắc trong dòng chảy của sự sống. Nó đòi hỏi một sự tiếp xúc trực tiếp với thế giới của kinh nghiệm và trực cảm. Nó thúc ép người làm thơ, bằng mọi cách có thể, mang đến được cho người đọc những cảm giác cụ thể và tức thời nhất về thế giới.
Hành trình của thơ cụ thể, thơ thấy không hấp dẫn người đọc bởi kì hoa, dị thảo tức những cấu tứ độc đáo, siêu việt mà đơn giản nó chỉ tạo cho người đọc cơ hội trải nghiệm những phút giây sống.
Trong bối cảnh đó, thơ với những xung lực ngầm mãnh liệt sẽ tác động mạnh mẽ làm thay đổi những yếu tố căn cốt của thể loại.
Chẳng hạn với lục bát trong đề tài tình yêu vốn chuộng hình thức diễn tả dân dã, trong sáng, giản dị giờ thể hiện khí chất hài hước, trẻ trung, hiện đại:
Đây bờ ruộng lúc chiều tà
Em thấy vắng với anh là hơi đông
Em ngồi ôm mái tóc bồng
Anh nằm ước lát em không phải về.
(Ru em)
Đọc nhiều bài trong Công bằng đến khốn cùng độc giả sẽ thấy Sơn sử dụng nhiều hình thức tường thuật, bán tự sự, đối thoại, tranh biện cùng nhiều mẩu rời của độc thoại. Cú pháp và hành ngôn thơ vì bị ném vào ngữ cảnh mới mà tự xích lại gần với hành ngôn của đời thường nặng tính khẩu ngữ.
Tinh sương thức dậy hóng đọc còm
Vậy mà hàng giờ sau chỉ một like để đếm
Với bài thơ giới hạn hai người biết
Anh bèn tự like….
(Bệnh tưởng và chuyện vặt)
hay
Chúng ta nói với nhau như sẽ ngay và luôn
Về đứa con xuất sắc
Mang tố chất tuyệt vời của mỗi chúng ta
Nhưng phương cách là cổ tích
Anh để dấu chân rồi em ướm gót vào.
(Nháp)
Thơ được và mất gì trong hành vi sáng tạo này?
Khó có thể khẳng quyết.
Nhưng nó đem lại cho ta cảm giác về cái khác.
Đến đây và qua trường hợp cụ thể này, thơ Hoàng Liên Sơn, ta có thể thay câu nói: nghệ thuật là hình thái của kiến thức (form of knowledge), theo quan điểm của các phái trừu tượng và biểu hiện thập niên 50, bằng cách nói của hiện tại: nghệ thuật là hình thái của đời sống.
3.
Nhan đề tập thơ không đợi một sự diễn giải.
Quyền diễn giải thuộc về người đọc và, đương nhiên sẽ có nhiều cách diễn giải khác nhau dựa trên những cách đọc khác nhau.
Riêng tôi khi đọc tập thơ đang ở dạng bản thảo đã găm lại trong đầu một suy ngẫm về cái nghịch lý của đời sống rằng không phải trên đời này những thứ có ít giá trị đương nhiên sẽ dần dần đi tới tình cảnh khốn cùng mà ngay cả những thứ có nhiều giá trị cùng với việc được hàng triệu người hướng tới cũng nhiều khi vì ý thức tự bảo vệ chính mình mà dần dần bị ép tới vào khốn cùng như Tình Yêu, Niềm Tin, Lẽ Phải, Sự Thật, cái Đẹp, cái Thiện và, đương nhiên, Công Bằng cũng không là một ngoại lệ. Quả vậy, khi mà thực tại, với những đổi thay nhanh chóng và đa chiều vừa tạo ra muôn vàn những bấp bênh và bất an vừa dồn các giá trị hiển nhiên đó đi vào ngõ cụt thì sự khốn cùng không còn là một định mệnh nằm chờ sẵn ta ở cuối con đường mà là một quá trình vận hành khó đảo ngược.
Ý thức được bối cảnh đầy chất hiện sinh đó để tìm ra những giải pháp dấn thân tích cực trong từng phút giây sinh tồn của mỗi cá nhân tức cũng là đề ra một thứ pháp luật để tự bảo vệ sự vẹn toàn lương thiện của chính mình. Nếu không thế thì dựa trên thẩm quyền nào họ có thể tự nhận là “những nhà lập pháp không được nhìn nhận của thế giới” như Shelley từng nói?
Hà Nội, ngày lập hạ năm Bính Ngọ, 2026
Nguyễn Phượng